Hallyu Wikihallyu.wiki
Tiếng Việt
Thể loại: Diễn viên

Kim Tae-hee

Sửa đổi lần cuối: 2026-09-15 06:58 UTC Bản gốc trên WikipediaLịch sử

Ngôn ngữ khác: 한국어 · English · Español · Português · Bahasa Indonesia · 日本語 · ไทย

nữ diễn viên người Hàn Quốc

Kim Tae-hee
김태희
200218 김태희 (3).jpg스토리제이컴퍼니 · CC BY 3.0
Kim Tae-hee vào năm 2020
Sinh29 tháng 3, 1980
Ulsan, Hàn Quốc
Học vịĐại học Quốc gia Seoul
(B.A. ngành Thiết kế Thời trang)
Nghề nghiệpDiễn viên, Người mẫu
Năm hoạt động2000– nay
Người đại diệnLua Entertainment (Hàn Quốc)
Sweet Power (Nhật Bản)
Chiều cao162 cm (5 ft 4 in)[1]
Tôn giáoCông giáo[2]
Phối ngẫu
Rain (cưới 2017)
Con cái2
Cha mẹKim Yoo-moon (cha)[3]
Người thânKim Hee-won (chị gái)
Lee Wan (em trai)
Chữ ký
Kim Tae-hee signature.svgSangjinhwa · Public domain
Kim Tae-hee
Hangul
김태희
Hanja
金泰希
Romaja quốc ngữGim Tae-hui
McCune–ReischauerKim T'ae-hŭi
Hán-ViệtKim Thái Hi

Kim Tae Hee (Hangul: 김태희; sinh ngày 29 tháng 3 năm 1980) là một nữ diễn viên và người mẫu nổi tiếng người Hàn Quốc.[4][5]

1. Tiểu sử

Kim Tae-hee sinh tại Ulsan, Hàn Quốc. Cha cô là ông Kim Yoo-moon, chủ tịch Công ty Liên hiệp vận tải Hankook Union Transportation Company được thành lập từ năm 1984. Ông từng tham gia vào nhiều tổ chức từ thiện để giúp đỡ các thanh niên có hoàn cảnh khó khăn và các gia đình tan vỡ ở khu vực Ulsan.[3]

Cô có một chị gái là Kim Hee Won và em trai là nam diễn viên Lee Wan. Năm lớp 6 bậc tiểu học tại Hàn Quốc, cô từng làm người mẫu quảng cáo đồng phục thay cho chị gái. Người chị nhận được lời mời khi đang học trung học nhưng vì ngại ngùng nên đã để em gái thay vào.[6] Cô theo học trường tiểu học Samshin, trường cấp 2 Daehyun (대현중학교)[7] và trường trung học nữ sinh Ulsan. Thời trung học, Kim Tae-hee trở thành người mẫu xuất hiện trên tờ rơi quảng bá cho trường.[8]

Năm 1999, cô theo học ngành Dệt may của Cao đẳng Sinh thái học con người trực thuộc Đại học Quốc gia Seoul và tốt nghiệp năm 2005.[9][10][11] Ngoài giờ lên lớp, Kim Tae Hee sinh hoạt trong câu lạc bộ trượt băng và trở thành chủ tịch câu lạc bộ SNU Women's Ski Club của trường.[12]

2. Đời tư

Tháng 9 năm 2012, đại diện của Kim Tae-hee xác nhận cô đang hẹn hò với nam ca sĩ, diễn viên Rain. Sau 5 năm hẹn hò, cặp đôi tổ chức kết hôn với đám cưới riêng tư tại nhà thờ Cơ đốc giáo vào ngày 19 tháng 1 năm 2017.[13][14][15]

Ngày 23 tháng 5, công ty quản lý của Kim Tae-hee là Lua Entertainment thông báo nữ diễn viên hiện đang mang thai con đầu lòng được 15 tuần.[16] Kim Tae Hee sinh con gái đầu lòng vào ngày 25 tháng 10 năm 2017.[17][18][19] Và sinh con gái thứ 2 vào ngày 19 tháng 9 năm 2019.

3. Sự nghiệp

Năm 2000, Kim Tae-hee được nhân viên của một công ty quảng cáo phát hiện khi đang đi bộ ở nhà ga tàu điện ngầm Seoul. Từ đó, cô bắt đầu làm người mẫu đóng các quảng cáo thương mại.[20]

Năm 2001, khi đoàn làm phim điện ảnh Last Present cần tìm kiếm nữ diễn viên đóng vai của Lee Young Ae thời trung học thì Kim Tae Hee tham gia thử vai và được chọn. Đạo diễn phim cho biết, ông thấy ở Kim Tae-hee một vẻ thuần khiết như khí trời, giống với biệt danh người đẹp oxi của đàn chị Lee Young-ae.

Năm 2002, cô tham gia bộ phim ngắn Living in New Town và phim sitcom Let's Go. Năm 2003, cô góp mặt trong phim truyền hình Screen và A Problem at My Younger Brother's House. Kim Tae Hee chỉ thực sự được chú ý qua vai phản diện Han Yuri, cô em độc ác, con riêng của mẹ kế của Choi Ji Woo trong bộ phim truyền hình ăn khách Nấc thang lên thiên đường cuối năm 2003 của đài SBS.[21][22]

Bắt đầu từ năm 2004, Kim Tae-hee được giao vai chính nhiều bộ phim, trong đó có loạt phim của KBS Forbidden Love và phim truyền hình Chuyện tình Harvard của đài SBS.

Kim Tae-hee (2011, cropped).jpg
Kim Tae Hee năm 2011LG전자 · CC BY 2.0

Sau đó cô thử sức trong các phim điện ảnh The Restless (2006) và phim hài lãng mạn Venus and Mars (2007). Tuy nhiên cả hai đều không thành công tại phòng vé. Cô tham gia phim truyền hình về đề tài mật vụ chống tội phạm mang tên Mật danh Iris. Đây là một trong những bộ phim tốn kém nhất trong lịch sử điện ảnh Hàn Quốc và đã thành công với tỷ suất người xem trung bình là 30%. Kim Tae-hee đã rơi nước mắt tại KBS Drama Awards khi cô đạt giải Excellence Award ở hạng mục Miniseries. Đây là giải thưởng diễn xuất đầu tiên của cô, bên cạnh các giải thưởng cho tân binh.

Kim Tae-hee rời công ty quản lý Namoo Actors vào tháng 1 năm 2010 để gia nhập Lua Entertainment, được thành lập bởi anh rể cô. Cùng năm đó, cô tham gia phim điện ảnh về đề tài thể thao đua ngựa Grand Prix.

Cô quay lại màn ảnh nhỏ với vai chính trong phim truyền hình My Princess (2011). Sau đó, cô tham gia bộ phim truyền hình Nhật Bản 99 ngày với ngôi sao (Boku to Star no 99 Nichi), với vai diễn là một ngôi sao của làn sóng Hallyu Hàn Quốc đem lòng yêu một vệ sĩ người Nhật.

Năm 2013, Kim Tae-hee lần đầu đóng phim cổ trang, Tình sử Jang Ok Jung với vai diễn phi tần Hy tần Trương thị và vai vợ của Vương Hy Chi trong bộ phim truyền hình Trung Quốc cùng tên.

Năm 2015, Kim Tae Hee tham gia phim truyền hình của đài SBS Yong Pal với rating trên 20% đóng cùng bạn diễn Joo Won. Tuy còn nhiều lời phê bình về diễn xuất nhưng đó cũng là bộ phim hâm nóng tên tuổi của "Mỹ nhân đẹp nhất Hàn Quốc".

4. Quảng cáo

Kim Tae-hee là người đại diện của nhiều thương hiệu nội địa cũng như quốc tế nổi tiếng tại Hàn Quốc như Inisfree, 12Plus Colorista, Cyon, Paris Baguette, LG, iriver, Hera, Ohui, Vivian, Daewoo Matiz, Klasse, Samsung, Beans Avenue, Olympus, My House/Root, Crencia, KT Smard Card, Calli, ZEC, BC Card, Maxwell House, S-Oil, Corn Silk Tae, Toyota, Everon và Prugio.

5. Hình ảnh

6. Danh sách phim

6.1. Phim truyền hình

Năm Tựa đề Vai Kênh
2002 Let's Go Tae-hee SBS
2003 Screen Kim So-hyun SBS
Rắc rối ở nhà em tôi Park Su-jin SBS
Nấc thang lên thiên đường Han Yoo-ri SBS
2004 Forbidden Love Yoon Shi-yeon KBS2
Chuyện tình Harvard Lee Soo-in SBS
2009 Mật danh Iris Choi Seung-hee KBS2
2011 Công chúa của tôi Lee Seol MBC
99 Ngày Với Ngôi Sao Han Yoo-na Fuji TV
2013 Tình sử Jang Ok-jung Jang Ok-jung SBS
2014 Vương Hy Chi
2015 Thiên tài lang băm Han Yeo Jin SBS
2020 Chào mẹ, tạm biệt! Cha Yoo-ri TvN

6.2. Phim điện ảnh

Năm Tựa đề Vai
2001 Last Present Park Jung-yeon lúc trẻ
2002 Living in New Town Ji-soo
2006 The Restless So-hwa/Yon-hwa
2007 Venus and Mars Yoon Jin-ah
2010 Grand Prix Seo Ju-hee
Iris: The Movie Choi Seung-hee

6.3. Video âm nhạc

Năm Bài hát Nghệ sĩ
2002 "Letter" g.o.d.
2003 "Only" The Jun
2004 "Don't Go Away" Park Yong-ha
2014 "Koinonia"[2] Korean Catholic celebrities

7. Giải thưởng và đề cử

NămGiải thưởngHạng mụcTác phẩmKết quả
2003SBS Drama Awards[11]New Star AwardNấc thang lên thiên đườngĐoạt giải
2004 KBS Drama Awards[23]Best New ActressForbidden LoveĐoạt giải
SBS Drama Awards[11]Top 10 StarsChuyện tình HarvardĐoạt giải
Popularity Award, ActressĐoạt giải
200541st Baeksang Arts Awards[11]Most Popular Actress (TV)Đoạt giải
2007 43rd Baeksang Arts Awards[11]Most Popular Actress (Film)The RestlessĐoạt giải
3rd Pyeongtaek Film FestivalNew Currents Movie Star - Best New ActressĐoạt giải
15th Chunsa Film Art AwardsBest New ActressĐề cử
42nd Grand Bell Awards[11][24]Overseas Popularity AwardĐoạt giải
Best New ActressĐề cử
28th Blue Dragon Film Awards[11][24]Popular Star AwardĐoạt giải
Best New ActressĐề cử
6th Korean Film Awards[24]Best New ActressĐề cử
Andre Kim Best Star AwardsFemale Star Award—Đoạt giải
2009 KBS Drama Awards[25]Best Couple Award with Lee Byung-hunMật danh IrisĐoạt giải
Excellence Award, Actress in a Mid-length DramaĐoạt giải
2010 46th Baeksang Arts AwardsBest Actress (TV)Đề cử
3rd Korea Drama AwardsExcellence Award, ActressĐề cử
2011 6th Seoul International Drama AwardsOutstanding Korean ActressMy PrincessĐề cử
MBC Drama AwardsTop Excellence Award, Actress in a MiniseriesĐề cử
2013Cosmopolitan Beauty AwardsAsia Dream Star—Đoạt giải
SBS Drama AwardsExcellence Award, Actress in a Drama SpecialJang Ok-jung, Living by LoveĐề cử
2015 Korea Drama Awads Top Excellence Award, Actress Yong-palĐoạt giải
APAN Star Awards Top Excellence Award, Actress in a MiniseriesĐề cử
SBS Drama Awards Best couple award with Joo WonĐoạt giải
Top 10 StarsĐoạt giải
Top Excellence Award, Miniseries, ActressĐoạt giải

Chú thích

  1. ↑
  2. ↑
  3. ↑
  4. ↑
  5. ↑
  6. ↑
  7. ↑
  8. ↑
  9. ↑
  10. ↑
  11. ↑
  12. ↑
  13. ↑
  14. ↑
  15. ↑
  16. ↑
  17. ↑
  18. ↑
  19. ↑
  20. ↑
  21. ↑
  22. ↑
  23. ↑
  24. ↑
  25. ↑

Bài viết liên quan

Bài viết này dựa trên bài Wikipedia «Kim Tae-hee», theo giấy phép CC BY-SA 4.0. Danh sách người đóng góp xem tại lịch sử sửa đổi. Ghi công hình ảnh nằm dưới mỗi hình.