Hallyu Wikihallyu.wiki
Tiếng Việt
Thể loại: Nhóm nhạc K-pop

Illit (nhóm nhạc)

Sửa đổi lần cuối: 2026-10-04 12:03 UTC Bản gốc trên WikipediaLịch sử

Ngôn ngữ khác: 한국어 · English · Español · Português · Bahasa Indonesia · 日本語 · ไทย

nhóm nhạc nữ Hàn Quốc

Illit
Illit vào tháng 1 năm 2026Từ trái sang phải: Yunah, Wonhee, Iroha, Moka, Minju.https://www.youtube.com/@_TV10 · CC BY 4.0
Illit vào tháng 1 năm 2026
Từ trái sang phải: Yunah, Wonhee, Iroha, Moka, Minju.
Thông tin nghệ sĩ
Nguyên quánSeoul, Hàn Quốc
Thể loạiK-pop
Năm hoạt động2024–nay
Hãng đĩa
Thành viên
Cựu thành viênYoungseo
WebsiteHàn Quốc: Website chính thức
Nhật Bản: Website chính thức

Illit (/ˈaɪlɪt/; EYE-lit; tiếng Hàn: 아일릿; Romaja: Aillit; được cách điệu là ILLIT hoặc :ll:+; tên được viết tắt của từ I'll-It) là một nhóm nhạc nữ Hàn Quốc được thành lập bởi Belift Lab, một công ty con trực thuộc Hybe Corporation. Được thành lập thông qua chương trình sống còn hợp tác sản xuất giữa Belift Lab và JTBC vào năm 2023, R U Next?. Nhóm bao gồm 5 thành viên: Yunah, Minju, Moka, Wonhee và Iroha.[1][4] Illit ra mắt vào ngày 25 tháng 3 năm 2024, với đĩa mở rộng (EP) đầu tay Super Real Me.

1. Tên gọi

Illit logo.svg
Logo chính thức của IllitHYBE · Public domain

Cái tên I'll-It (trước đây) được giới thiệu trong buổi phát sóng trực tiếp tập cuối của R U Next?. Trong tập phim, người ta giải thích rằng cái tên "đại diện cho việc lựa chọn động từ của riêng bạn để đặt giữa I'll và It", truyền tải khả năng hành động và đưa ra quyết định một cách độc lập của các thành viên.[5] Tên nhóm của họ bắt nguồn từ cụm từ "I Will Be It". Đây là tên nhóm kết hợp giữa ý chí tự chủ và chủ động (I will) với đại từ (It) biểu thị một điều gì đó đặc biệt. Tùy thuộc vào động từ phù hợp giữa hai từ, nó có thể trở thành bất cứ điều gì.

2. Sự nghiệp

2.1. 2023: Quá trình hình thành trước khi ra mắt thông qua R U Next?

Series R U Next? của đài JTBC với 10 tập, được phát sóng từ ngày 30 tháng 6 đến ngày 1 tháng 9 năm 2023, trong đó 22 thí sinh cạnh tranh để ra mắt trong một nhóm nhạc nữ 6 thành viên trực thuộc Belift Lab.[6] Tập cuối chứng kiến sự hình thành đội hình 6 thành viên của nhóm, trong đó hai thành viên được công chúng lựa chọn và 4 thành viên được các nhà sản xuất của công ty lựa chọn. Đội hình cuối cùng của Wonhee, Youngseo, Minju, Iroha, Moka và Yunah, đã được công bố vào cuối buổi phát sóng.[7] Trước khi tham gia show sống còn "R U Next?" thành viên Minju từng là thực tập sinh của YG Entertainment. Vào ngày 5 tháng 1 năm 2024, Belift Lab thông báo Youngseo đã rời nhóm. Trước đó, Belift Lab và Youngseo đã thảo luận về các hoạt động trong tương lai của cô và đồng ý cho cả hai bên chấm dứt hợp đồng độc quyền.[8]

2.2. 2024: Ra mắt với Super Real Me và trở lại với I'll Like You

ILLIT Music Bank 20240329.jpg
ILLIT tại Music BankK-POPIT 케이팝잇 · CC BY 3.0

Ngày 13 tháng 2, Belift Lab xác nhận rằng Illit sẽ ra mắt vào tháng 3.[9] Ngày 21 tháng 2, thông tin ra mắt của Illit được một lần nữa xác nhận chính xác là ngày 25 tháng 3 với đĩa mở rộng đầu tiên, cùng sự tham gia của Chủ tịch Hybe Bang Si-hyuk với tư cách là nhà sản xuất album của nhóm.[10] Ngày 26 tháng 2, công ty đã công bố tên EP đầu tiên Super Real Me của Illit, với thời gian đặt hàng trước được mở cùng ngày với thông báo. Ngày 28 tháng 2, Illit xuất hiện trước công chúng lần đầu tiên với tư cách một nhóm nhạc tại buổi trình diễn Acne Studios trong Tuần lễ Thời trang Paris,[11] họ trở thành nghệ sĩ K-pop đầu tiên xuất hiện tại sự kiện này trước khi ra mắt chính thức.[12] Danh sách ca khúc của Super Real Me được tiết lộ một tuần sau đó vào ngày 9 tháng 3, với "Magnetic" là đĩa đơn chủ đề.[13] Tổng cộng có bốn bài hát, bao gồm cả "Magnetic", sẽ được phát hành. Ba bài hát khác trong album là "My World", "Midnight Fiction" và "Lucky Girl Syndrome".[14][15] Đoạn teaser cho MV của đĩa đơn đầu tay sắp ra mắt "Magnetic" đã chính thức được phát hành vào ngày 22 tháng 3.[16]

"Magnetic" trở thành đĩa đơn đầu tay đầu tiên của nhóm nhạc nữ K-pop lọt vào bảng xếp hạng Spotify toàn cầu trong cùng ngày phát hành,[17] và tính đến ngày 6 tháng 4 năm 2024, "Magnetic" được xếp hạng thứ 15 trên cùng bảng xếp hạng.[18] Tám ngày sau khi Illit ra mắt, "Magnetic" đã lọt vào bốn Bảng xếp hạng Billboard của Hoa Kỳ.[19] Illit cũng đã trở thành nhóm nhạc K-pop đầu tiên ra mắt trên Bảng xếp hạng Đĩa đơn Chính thức của Anh, với "Magnetic" xếp thứ 80 trong số 100 bài hát hàng đầu của bảng xếp hạng.[20]

Vào ngày 23 tháng 9, Belift Lab xác nhận rằng nhóm sẽ phát hành album mở rộng thứ hai I'll Like You vào ngày 21 tháng 10.[21] Buổi giới thiệu album trở lại diễn ra hai ngày sau ngày phát hành chính thức của album.[22] Album ra mắt trên bảng xếp hạng Billboard 200 và xếp thứ 94 trong danh sách.[23] Vào ngày 22 tháng 11, Illit phát hành phiên bản tiếng Anh của "Tick-Tack", có tựa đề "Baby It's Both" với sự góp mặt của Ava Max.[24]

2.3. 2025–nay: Phát hành đĩa đơn tiếng Nhật đầu tiên Almond Chocolate , Bomb , Not Cute Anymore và Mamihlapinatapai

Ngày 14 tháng 2 năm 2025, Illit phát hành đĩa đơn tiếng Nhật đầu tiên của nhóm mang tên "Almond Chocolate".[25] Ca khúc này cũng góp mặt trong album nhạc phim của bộ phim live-action Nhật Bản It Takes More Than a Pretty Face to Fall in Love, được chuyển thể từ manga cùng tên.[26] Đến ngày 10 tháng 3, phiên bản tiếng Hàn của "Almond Chocolate" chính thức được phát hành.[27]

Ngày 30 tháng 4, Theo phỏng vấn độc quyền từ IZE, nhóm sẽ trở lại vào giữa tháng 6.[28]

Ngày 7 tháng 5, Yunah và Minju hợp tác với Kylie Cantrall trong ca khúc "See U Tonight".[29] Ngày 14 tháng 5, Wonhee biểu diễn ca khúc OST "The Look In Your Eyes" cho bộ phim thần tượng Spring of Four Seasons.[30]

Vào ngày 16 tháng 6, nhóm đã phát hành EP thứ 3 của nhóm là Bomb.[31] EP được lấy cảm hứng từ concept "cô gái phép thuật" trong anime nhưng theo cách riêng của nhóm. Thông điệp mà nhóm gửi tới là "bất kỳ cô gái bình thường nào cũng được trở thành cô gái phép thuật". EP tổng cộng có 5 bài và ca khúc chủ đề của EP là ca khúc Billyeoon Goyangi (Do The Dance) (tiếng Hàn: 빌려온 고양이) có giai điệu "French House" và vũ đạo lấy chủ đề "mèo". Các ca khúc khác trong EP bao gồm "little monster", "jellyous", "oops!" và "bamsopoong".[32]

Vào ngày 14 tháng 7, Belift Lab thông báo rằng Illit sẽ phát hành đĩa đơn maxi Nhật Bản đầu tiên mang tên ""Toki Yo Tomare" (時よ止まれ, "Toki Yo Tomare" n.đ. 'Thời gian ngừng lại')" vào ngày 1 tháng 9.[33] Đĩa đơn bao gồm bốn bài hát: hai bài hát mới là "Toki Yo Tomare" và "Topping", cùng với phiên bản tiếng Nhật của "Do the Dance", và bài hát "Almond Chocolate" đã được phát hành trước đó vào tháng 2.[34] Bài hát "Topping" đã được phát hành trước vào ngày 11 tháng 8.[35]

Vào ngày 4 tháng 11, Illit đã phát hành "Secret Quest", bài hát đóng vai trò là nhạc kết thúc cho loạt phim hoạt hình Pokémon Horizons – Rising Hope.[36]

Vào ngày 24 tháng 11, nhóm phát hành album đĩa đơn đầu tiên mang tên Not Cute Anymore.[37]

Illit sẽ phát hành bài hát "Sunday Morning" vào ngày 13 tháng 1 năm 2026, bài hát này sẽ đóng vai trò là nhạc mở đầu cho loạt phim hoạt hình Nhật Bản 'Tis Time for "Torture," Princess.[38][39]

Vào ngày 15 tháng 3, trong một buổi hòa nhạc tại Seoul thuộc khuôn khổ chuyến lưu diễn Press Start, nhóm đã tiết lộ rằng sẽ phát hành EP thứ tư mang tên Mamihlapinatapai, với đĩa đơn chủ đề "It's Me", dự kiến sẽ ra mắt vào ngày 30 tháng 4.[40]

Vào ngày 12 tháng 6, Illit cùng với hai nhóm nhạc nữ chung công ty là Le Sserafim và Katseye hợp tác phát hành đĩa đơn "Iconic by Mistake".[41][42]

Vào ngày 14 tháng 6, trong một buổi hòa nhạc ở Aichi thuộc khuôn khổ chuyến lưu diễn Press Start, Illit tiết lộ rằng nhóm sẽ phát hành đĩa đơn tiếng Nhật thứ hai mang tên "I Got Your Back" vào ngày 26 tháng 7.[43]

Vào ngày 26 tháng 10, Illit dự kiến sẽ phát hành EP thứ năm mang tên Break Even.[44]

3. Phong cách nghệ thuật

Illit ra mắt với concept xoay quanh "cảm xúc chân thật của các cô gái tuổi teen", khác biệt so với những cốt truyện "phức tạp" thường thấy ở các nhóm nhạc K-pop trước đây.[45]

Nhà phê bình văn hóa đại chúng Kim Do-heon nhận định rằng thành công của Illit phần lớn đến từ việc nhóm tập trung khai thác "chủ đề về sự đồng cảm", yếu tố đã góp phần định hình bản sắc âm nhạc của nhóm.[46]

4. Thành viên

  • Chú thích: in đậm là nhóm trưởng
Danh sách thành viên của Illit
Nghệ danh Tên khai sinh Ngày sinh Vai trò Nơi sinh Quốc tịch
Latinh Hangul Kana Latinh Hangul Kana Hanja Hán-Việt
Yunah 윤아 ユナ Noh Yun-ah 노윤아 ノ・ユナ 盧玧我 Lư Doãn Nga 15 tháng 1, 2004 Lead Dancer, Lead Vocalist Chungju, Chungcheong Bắc, Hàn Quốc  Hàn Quốc
Minju 민주 ミンジュ Park Min-ju 박민주 パク・ミンジュ 朴慜柱 Phác Mẫn Trụ 11 tháng 5, 2004 Main Vocalist, Main Rapper Namyangju, Gyeonggi, Hàn Quốc
Moka 모카 モカ Sakai Moka 사카이 모카 さかい もか 境 萌花 Cảnh Manh Hoa 8 tháng 10, 2004 Lead Dancer, Sub Vocalist Kitakyūshū, Fukuoka, Nhật Bản  Nhật Bản
Wonhee 원희 ウォンヒ Lee Won-hee 이원희 イ・ウォンヒ 李沅禧 Lý Nguyên Hi 26 tháng 6, 2007 Lead Vocalist, Face of the group, Center Busan, Hàn Quốc  Hàn Quốc
Iroha 이로하 イロハ Hokazono Iroha 호카조노 이로하 ほかぞの いろは 外園 彩羽
[2]
Ngoại Viên Thái Vũ 4 tháng 2, 2008 Main Dancer, Sub Vocalist, Maknae Koganei, Tokyo, Nhật Bản  Nhật Bản

5. Hợp đồng quảng bá

Vào tháng 3 năm 2024, Illit được chọn làm gương mặt đại diện cho chiến dịch toàn cầu SS24 của Acne Studios.[50] Ngày 28 tháng 3, nhóm tiếp tục trở thành người mẫu thương hiệu mới của KT Y.[51][52]

Tháng 4 năm 2024, Wonhee được công bố là người mẫu mới của thương hiệu nước uống thể thao Nhật Bản, Pocari Sweat.[53] Đến ngày 1 tháng 5, nhóm tiếp tục trở thành đại diện cho thương hiệu mỹ phẩm Pháp, Bioderma.[54][55] Đến ngày 28 tháng 5, Illit tiếp tục trở thành đại sứ thương hiệu của hãng dép Mỹ Crocs.[56]

Tháng 2 năm 2025, hai thành viên Moka và Iroha được công bố là đại sứ mới cho dòng kem chống nắng Tone Up UV của La Roche-Posay.[57] Đến tháng 3, Illit chính thức trở thành đại sứ thương hiệu của Lacoste Nhật Bản.[58][59] Đến ngày 26 tháng 3, Illit được công bố là người mẫu mới của thương hiệu nước uống thể thao Nhật Bản, Pocari Sweat.[60]

6. Danh sách đĩa nhạc

6.1. Đĩa mở rộng

7. Giải thưởng và đề cử

Các giải thưởng được xếp dựa trên bảng chữ cái
Giải thưởng Năm Hạng mục Đề cử cho Kết quả Chú thích
Asian Pop Music Awards 2024 Top 20 Songs of the Year (Overseas) "Magnetic" Đoạt giải [61]
Best Dance Performance (Overseas) Đề cử [62]
Best New Artist (Overseas) Super Real Me Đề cử
Billboard Music Awards 2024 Top Global K-Pop Song "Magnetic" Đề cử [63]
D Awards 2025 Delights Blue Label Illit Đoạt giải [64]
Dreams Silver Label Đoạt giải
Best Choreography Đoạt giải
Best Girl Group Popularity Award Đề cử [65]
Hanteo Music Awards 2025 Rookie of the Year – Female Đoạt giải [66]
Artist of the Year (Bonsang) Đề cử [67]
Global Artist – Africa Đề cử [68]
Global Artist – Asia Đề cử
Global Artist – Europe Đề cử
Global Artist – North America Đề cử
Global Artist – Oceania Đề cử
Global Artist – South America Đề cử
WhosFandom Award – Female Đề cử
Golden Disc Awards 2024 Best Digital Song (Bonsang) "Magnetic" Đoạt giải [69][70]
Rookie Artist of the Year Illit Đoạt giải
Song of the Year (Daesang) "Magnetic" Đề cử [71][72]
Most Popular Artist – Female Illit Đề cử
iHeartRadio Music Awards 2025 Best New Artist (K-pop) Đoạt giải [73][74]
K-pop Song of the Year "Magnetic" Đề cử
Favorite K-pop Dance Challenge Đề cử
Japan Gold Disc Award 2025 Song of the Year by Download (Asia) Đoạt giải [75]
Song of the Year by Streaming (Asia) Đoạt giải
Best 5 Songs by Streaming Đoạt giải
Japan Record Awards 2024 New Artist Award Illit Đoạt giải [76]
Korea Grand Music Awards 2024 Best 10 Artists Đề cử [77]
Best 10 Songs "Magnetic" Đề cử
Best Rookie – Artist Illit Đề cử
Best Rookie – Song "Magnetic" Đề cử
Trend of the Year Illit Đề cử [78]
Korean Music Awards 2025 Rookie of the Year Đề cử [79][80]
Best K-pop Song "Magnetic" Đề cử
Mnet Asian Music Awards 2024 Best New Artist – Female Illit Đoạt giải [81]
Artist of the Year Đề cử [82]
Best Choreography "Magnetic" Đề cử
Best Dance Performance – Female Đề cử
Fan's Choice of the Year – Female Illit Đề cử
Fans' Choice of the Year Đề cử
Song of the Year "Magnetic" Đề cử
Melon Music Awards 2024 New Artist of the Year Illit Đoạt giải [83]
Album of the Year Super Real Me Đề cử [84]
Best Group – Female Illit Đề cử
Song of the Year "Magnetic" Đề cử
MTV Europe Music Awards 2024 Best Asia Act Illit Đề cử [85]
Music Awards Japan 2025 Best K-pop Song in Japan "Magnetic" Chưa công bố [86]
Best of Listeners' Choice: International Song Chưa công bố
TikTok Awards Korea 2024 Best Viral Song Đoạt giải [87]

8. Danh sách video

8.1. Video âm nhạc

Danh sách video âm nhạc, bao gồm năm phát hành và đạo diễn
Tên Năm Đạo diễn Chú
thích
"Magnetic" 2024 DQM [88]
"Lucky Girl Syndrome" Kim In Tae (AFF) [89][90]
"Cherish (My Love)" Hasegawa Anderson (Digipedi) [91]
"Tick-Tack" Yuann [92]
"Almond Chocolate" 2025 DQM [93]
"Do The Dance" Zac Dov Wiesel
"Jellyous" Ha Jung-Hoon (Hattrick)
"Toki Yo Tomare" (時よ止まれ) Minjae Kim [94]
"Not Cute Anymore" Kwanggoeng Yu [95]
"Sunday Morning" 2026 SugarSpunSister Jinseul [96]
"Not Me" Yunah Sheep [97]
"It's Me" Yvng Wing (Idiots) [98]
"Iconic by

Mistake"
(với Le Sserafim và Katseye)

Cody Critcheloe [99]
"I Got Your Back"
(với Jisoo và Momoka của Hana)
Xavier Tera [100]

9. Danh sách phim và chương trình

9.1. Chương trình truyền hình

Reality shows appearances
Năm Tên Ghi chú Chú
thích
2023 R U Next? Chương trình sống còn để chọn ra thành viên được ra mắt cho illit [101]
2024 Illit: I'll (Show) It Trương trình đầu tiên sau khi ra mắt [102]

9.2. Chương trình chiếu mạng

Web shows appearances
Năm Tên Ghi chú Chú
thích
2023 I'll Like It! Chương trình thực tế trước khi ra mắt; 6 tập [101]
2023–nay Behind-It Hậu trường về hoạt động của các thành viên [103]
2024 Illit Ready Chương trình thực tế trước khi ra mắt; 4 tập [104]
Super Real Illit Phim tài liệu về quá trình chuẩn bị ra mắt của nhóm; 3 tập [105]
10 Minute Debate Chương trình tạp kỹ [106]
2024–nay Beside-It Những cảnh quay ngắn về hoạt động của các thành viên [107]
Log-It Nội dung vlog của các thành viên [108]
Super Illit Chương trình tạp kỹ hàng tuần; khởi chiếu vào ngày 1 tháng 7 năm 2024 [109]
The Night of Illit Chương trình tạp kỹ hàng tuần; khởi chiếu vào ngày 5 tháng 7 năm 2024 [110]
2025 I'll Like It! 2 Chương trình thực tế; 4 tập [111]

10. Chương trình âm nhạc

10.1. The Show

Năm Ngày Bài hát Điểm
2024 2 tháng 4 "Magnetic" 6904
9 tháng 4 8890

10.2. Show Champion

Năm Ngày Bài hát Điểm
2024 17 tháng 4 "Magnetic" 4188
2025 17 tháng 12 "NOT CUTE ANYMORE" 5647

10.3. M Countdown

Năm Ngày Bài hát Điểm
2024 18 tháng 4 "Magnetic" 5371
25 tháng 4 6262
2026 25 tháng 6 "ICONIC BY MISTAKE" 6654
9 tháng 7 6876

10.4. Music Bank

Năm Ngày Bài hát Điểm
2024 19 tháng 4 "Magnetic" 5096
2025 27 tháng 6 "Do the Dance" 11932
5 tháng 12 "NOT CUTE ANYMORE" 7593

10.5. Show! Music Core

Năm Ngày Bài hát Điểm
2024 13 tháng 4 "Magnetic" 6307
20 tháng 4 6503
27 tháng 4 6067
2026 17 tháng 1 "NOT CUTE ANYMORE" 6395
6 tháng 6 "It's Me" 7072

10.6. Inkigayo

Năm Ngày Bài hát Điểm
2024 21 tháng 4 "Magnetic" 7545
28 tháng 4 6306
5 tháng 5 6640
2025 29 tháng 6 "Do the Dance" 5894
2026 7 tháng 6 "It's Me" 5939
14 tháng 6 5168
21 tháng 6 5099

11. Buổi hòa nhạc và chuyến lưu diễn

11.1. Buổi hòa nhạc

  • ILLIT GLITTER DAY
Danh sách bao gồm ngày tháng, thành phố/quốc gia, địa điểm, người tham dự và chú thích của buổi hòa nhạc
Ngày (2025) Thành phố/Quốc gia Địa điểm Người tham dự Chú thích
7 tháng 6 Seoul, Hàn QuốcHội trường OlympicTBA[112]
8 tháng 6
10 tháng 8 Kanagawa, Nhật BảnPIA ARENA MM[113]
11 tháng 8
3 tháng 9 Osaka, Nhật BảnHội trường Osaka-jō
4 tháng 9

12. Biểu tượng đại diện cho từng thành viên

Yunah 🐆/🐈‍⬛

Minju 🐰/🐤

Moka 🐹/☕/🐻

Wonhee 🐿️/🦭

Iroha 🐢

Chú thích

  1. ↑
  2. ↑
  3. ↑
  4. ↑
  5. ↑
  6. ↑
  7. ↑
  8. ↑
  9. ↑
  10. ↑
  11. ↑
  12. ↑
  13. ↑
  14. ↑
  15. ↑
  16. ↑
  17. ↑
  18. ↑
  19. ↑
  20. ↑
  21. ↑
  22. ↑
  23. ↑
  24. ↑
  25. ↑
  26. ↑
  27. ↑
  28. ↑
  29. ↑
  30. ↑
  31. ↑
  32. ↑
  33. ↑
  34. ↑
  35. ↑
  36. ↑
  37. ↑
  38. ↑
  39. ↑
  40. ↑
  41. ↑
  42. ↑
  43. ↑
  44. ↑
  45. ↑
  46. ↑
  47. ↑
  48. ↑
  49. ↑
  50. ↑
  51. ↑
  52. ↑
  53. ↑
  54. ↑
  55. ↑
  56. ↑
  57. ↑
  58. ↑
  59. ↑
  60. ↑
  61. ↑
  62. ↑
  63. ↑
  64. ↑
  65. ↑
  66. ↑
  67. ↑
  68. ↑
  69. ↑
  70. ↑
  71. ↑
  72. ↑
  73. ↑
  74. ↑
  75. ↑
  76. ↑
  77. ↑
  78. ↑
  79. ↑
  80. ↑
  81. ↑
  82. ↑
  83. ↑
  84. ↑
  85. ↑
  86. ↑
  87. ↑
  88. ↑
  89. ↑
  90. ↑
  91. ↑
  92. ↑
  93. ↑
  94. ↑
  95. ↑
  96. ↑
  97. ↑
  98. ↑
  99. ↑
  100. ↑
  101. ↑
  102. ↑
  103. ↑
  104. ↑
  105. ↑
  106. ↑
  107. ↑
  108. ↑
  109. ↑
  110. ↑
  111. ↑
  112. ↑
  113. ↑

Bài viết liên quan

Bài viết này dựa trên bài Wikipedia «Illit (nhóm nhạc)», theo giấy phép CC BY-SA 4.0. Danh sách người đóng góp xem tại lịch sử sửa đổi. Ghi công hình ảnh nằm dưới mỗi hình.